Được tin đoàn chúng tôi mang sách đến, cô Đinh Thị Nga vui lắm
Nhờ đó mà mấy sự nặng nhọc trên đường trở thành nhỏ bé. Em nào còn đang đi thì đi nhanh lên, em nào mà chưa đi thì đi là vừa. Thầy Khờn gượng cười nói: Nếu có mấy tấm bảng thì tốt. Thầy hiệu trưởng Nguyễn Đại Khờn tỏ: “Trường cũng làm thuê văn gửi lên các cấp trên rồi nhưng… trên chưa cấp kịp”. Trường Ra Mai có 7 điểm trường, xa nhất là điểm trường bản Lòm, cách trường 18 cây số đường rừng.
Mỗi tháng một lần, các thầy cô khoác ba lô gạo, mắm, áo quần, sách vở đi bộ cả ngày mới vào tới nơi. Ngẫm ra cũng giỏi thật, chừng đó đường đất mà sách vở, vật chất đều “an toàn”. Theo tính hạnh, học trò THCS cần 15 cuốn/năm; học trò tiểu học cần 7 cuốn/năm, nhưng trường chỉ “bao cấp” được 20% nhu cầu này.
Chúng tôi, bốn người, vuốt nước mưa trên mặt mà lòng thấy ấm lên rất nhiều. # Còn khó khăn, hầu như các gia đình cho con học đều “trăm sự nhờ thầy”.
Cho nên, các thầy cô trong trường ai cũng tự học thạo tiếng Vân Kiều để phục vụ cho việc vận động học sinh và giảng dạy. Tôi hỏi thầy Hùng để thầy chỉ cho gặp hai em Hồ Xoan và Hồ Thị Soát. Hai anh Nguyễn Thắng và Trung Kiên đi xe máy cả đêm từ Đồng Hới lên, đường xa đến 120 cây số nhưng đến 5 giờ sáng đã “điểm danh” đầy đủ. Thầy cô lại đi vận động thêm “năm lần bảy lượt” nữa mới tạm ổn định.
Cơ sở vật chất chẳng có gì. Cả thảy đều vô sự. Nhưng cũng đáng. Họ nói thế này: "Mình vẫn biết học cái chữ là tốt, mình cũng khích lệ con rồi, nhưng đi học hay không là do nó chứ". Ngoài trời mưa vẫn rơi nặng hạt, có tiếng trống tan trường. Ngày nào hai chị em cũng đi học từ mờ sáng, và suốt năm qua đến trường rất đều. “Vậy đã thấm gì” - Thầy Nguyễn Mạnh Hùng, Phó hiệu trưởng trường Ra Mai tươi cười nói: “Đi vận động học sinh khó, giữ chân học trò khó và dạy để học trò nhớ được tri thức còn khó hơn gấp mười”.
Cũng phải nói thêm rằng, trong “đám” vật chất đó có mấy cái máy in, mấy cái ti vi là đồ “kỵ nước”, ai nấy tự giác lấy người che mưa suốt quãng đường ướt át đó. Lớp là một cái kho cỏ cũ, chỗ ở cũng không có, phải vào ở nhờ nhà dân. Dạo quành trường, chúng tôi thấy nhiều lớp dạy kèm chỉ có 2, 3 học sinh, việc giúp học trò nắm vững tri thức bắt đầu từ những lớp như thế.
Ánh mắt chúng vừa tinh nghịch vừa có vẻ sợ sệt. Đó là về sách giáo khoa. Người Vân Kiều ở Trọng Hóa có mặt bằng học vấn thấp, nhưng trong gia đình lại “tôn trọng” quan điểm con cái thái quá.
Lúc lập trường năm 2007, ước có 100 học sinh, nhưng giờ đã có đến 500. Ấy thế nhưng hễ phát hiện ra “bị” chụp ảnh là các em đều lấy tay che mặt vừa cười, vừa chạy vào lớp. Bởi nãy giờ chúng tôi cũng để ý đến những tấm bảng đen ở trường, là những ván gỗ, miết bằng nhựa chuối với than.
Hai chị em này nhà ở bên kia suối Cô Pi, sát chân dãy Giăng Mùng. Cho nên mà chuyện ba phải bỏ lương bổng mua vở cho học trò khá phổ quát.
Về cơ bản nhiều bản làng bóng gió miền Tây Bắc Tổ quốc đã được nhóm “công tác xã hội” của anh Hưng viện trợ về vật chất. Có em “ưng cái bụng rồi”, nhưng đến trường, học cái chữ khó quá lại bỏ về. Vậy là phương án nhờ các thầy trong trường Ra Mai ra “tăng bo” sách đành bỏ.
Ba năm trở lại đây, trường Ra Mai “phát triển” về sĩ số nhanh quá. Mọi người còn đang kể lại những kỷ niệm về bảng chùi bằng nhựa chuối thì lại nghe tiếng trống trường, trống giữa buổi trưa.
Thứ bảng viết "quý hiếm" này đáng ra đã bị "tuyệt diệt" từ lâu rồi, vì sao mà trường Ra Mai còn lưu giữ. Mọi người cùng à lên. Sáng đó mưa vẫn dầm dề rơi. Chẳng mấy đứa có cái cặp tử tế. Trông qua tưởng với tay là tới nhưng đi cũng mất nửa buổi
Các em học sinh trường Ra Mai. Chỉ trong khoảng 1 tuần kêu gọi đóng góp sách giáo khoa, vở học sinh, nhóm đã thu được khoảng 1 tấn sách. Còn về vở để biên chép bài cũng vậy, học trò chờ nhà trường phát vở. Bạch Vũ Hưng hỏi thầy hiệu trưởng Nguyễn Đại Khờn xem trường còn cần thứ gì nữa để lần sau anh em trong các nhóm “công tác xã hội” kêu gọi giúp đỡ.
Chúng tôi nhắm hướng dãy Giăng Mùng xốc tới… Quảng Bình đã chịu mấy đêm mưa do ảnh hưởng của cơn bão trên Biển Đông. Con suối Cô Pi bắt nguồn từ dãy Giăng Mùng nằm sát biên giới Việt - Lào, là thượng nguồn của sông Gianh. Muốn chụp ảnh các em tôi phải dùng ống kính tê-lê. Bởi có nồng hậu đến mấy thì xe máy cũng không tài nào vượt ngầm được.
Nhưng ổn định rồi vẫn chưa yên, phải giúp các em nắm vững tri thức ấy mới là việc khó. Vì học trò ở xa trường, nên đánh "trống đòi" để nhấc các em trước 30 phút.
Các đay trẻ nói: học sinh thích lắm đấy, em nào được cắt cử đi chặt tàu chuối chùi bảng đều rất le te. Đương nhiên trên chặng đường 30 cây số từ Khe Ve vào đến Ra Mai, anh em cũng phải nhiều lần xuống xe, đội mưa san đường, song niềm vui được thấy các em có sách mới khiến ai nấy đều cảm thấy ấm áp trong lòng.
Bài và ảnh: LÊ ĐÔNG HÀ. Cái bảng dài 2,8m, nếu mang từ Hà Nội vào đây là kỳ công lắm. Đối với một thân phụ “kiêm quản” thư viện trường như cô Nga thì không có niềm vui nào bằng dịp sách về.
Suối lồng lộn vượt qua đường bê tông, làm vỡ những ta-luy đường, cuốn sạch những thân cây to đến mấy vòng tay ôm. Tôi muốn gặp để tặng chút tiền chứ chẳng định phỏng vấn gì.
Nghe chuyện thầy cô đi vận động hai em này đến trường nói, nhà các em rất nghèo. Chúng tôi còn đang ngạc nhiên thì thầy Khờn giải thích: “Ấy là tiếng "trống đòi". Việc thiếu sách có mấy nguyên cớ: trước nhất là về ý thức giữ giàng sách vở của học sinh chưa tốt; thứ hai là vì điều kiện đi lại khó khăn, ví như có học sinh phải bơi qua suối thì việc giữ sách học được một năm đã là quý rồi; thứ ba là sĩ số học trò tăng nhanh, sách học trò năm trước để cho năm sau không đủ; thứ tư là kinh tế quần chúng.
Hai đứa cũng đã vài lần bỏ học nhưng nhớ trường nhớ lớp, nhớ bè bạn và những buổi ca hát vui vẻ, chúng lại tự tìm đến trường. Các thầy trong ban giám hiệu nắm tay chúng tôi lắc lắc, mắt môi cùng cười như xua tan đi cái lạnh giá: “Giỏi thật, giỏi thật”.
Thế nhưng khi bọn trẻ vừa thấy thầy vẫy tay gọi đã chạy túa đi hết. Đứa nào đứa nấy giữ bo bo các cuốn vở, cuốn sách vào người cho khỏi ướt. Đường bê tông lên bản Si được Nhà nước đầu tư rất chắc chắn nhưng cũng không chịu được những cơn lũ bất thường của con suối Cô Pi này.
Bàn giao sách giáo khoa do bà con Hà Nội quyên góp tặng học trò trường Ra Mai. Qua một đêm dài vật vã trên chiếc xe hàng liên vận đi Lào, đến mờ sáng chúng tôi đã giao hội hàng ở Khe Ve (nằm ở ngã ba đường Hồ Chí Minh và đường 12A) và có thêm lực lượng của các nhóm “công tác xã hội” ở Quảng Bình. Học sinh túa ra, đội mưa lội đất nhem nhép.
Vậy là sách được chuyển vào Ra Mai. Các em khó nhọc, chúng tôi biết lắm chứ, nhưng vì kính trọng thầy, vì yêu cái chữ mà nặng nhọc… Thoáng nghĩ vậy ai nấy đều cay cay nơi khóe mắt. Thường nhật con suối trong xanh hiền hòa, nhưng hễ có mưa xuống là vật mình dở chứng.
Bảy giờ sáng, xe đã đến trường Ra Mai. Bạch Vũ Hưng là giám đốc của một công ty TNHH, quê gốc Nghệ An, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, nhiều năm qua anh đã tham gia “công tác xã hội”.
Cô làm việc luôn chân luôn tay nhưng vẫn vui vẻ kể chuyện. Tấm lòng bà con Hà Nội gửi gắm, niềm háo hức chờ mong sách mới của các em học sinh khiến chúng tôi muốn mau chóng “bay” đến nơi.
Cũng may, anh em Quảng Bình nhanh trí, thuê trước cho một chiếc xe tải, và cũng may nữa là được bác tài xế nồng nhiệt, mưa lũ cũng quyết đoán đi. Sách vở thiếu rất nhiều. Hai cậu Thắng, Kiên rất tinh nghịch chạy đuổi bắt với đám trẻ, nhưng chúng có những đôi chân thoăn thoắt, loáng cái đã biến đi đằng nào.
Trường Ra Mai nằm giữa bản, phía trước có con đường đất đi xuống suối Cô Pi, phía sau có con đường bê tông đi bản Si. Đợt này, qua thông báo trên internet của các nhóm “công tác xã hội” tỉnh Quảng Bình kêu gọi đưa sách vở vào viện trợ học trò trường Ra Mai (tên chính thức là THCS số 2 Trọng Hóa), nhóm đặt kiên tâm thực hiện trước ngày khai trường.
Vậy là các thầy cô lại phải ra “tỉ tê” với từng em: “Đi học vui lắm, được hát này, được chơi này, có sách nhiều hình đẹp lắm…”. Học sinh trường Ra Mai đa số là com em đồng bào Vân Kiều đều sống quanh lưu vực con suối này nên chuyện phải bơi đến trường không phải hiếm gặp.
Một tấn sách đó được tôi và Bạch Vũ Hưng trực tiếp áp tải vào Ra Mai.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét